Áp lực mất giá của VND đang gia tăng

//Áp lực mất giá của VND đang gia tăng

Áp lực mất giá của VND đang gia tăng

Đồng Việt Nam (VND) đã giảm giá khoảng 3% tính từ đầu năm nay, so với mức giảm giá khoảng 5-12% của đồng Rupee (Ấn Độ), đồng Rupiah (Indonesia) và Peso (Philippines). Các Ngân hàng trung ương của Indonesia và Philippines tăng 1.75 điểm phần trăm lãi suất qua đêm trong năm nay nhằm mục đích hỗ trợ tỷ giá (sự sụt giảm giá trị đồng tiền của các nước nói trên tính từ đầu năm đã đạt ngưỡng 2 con số), nhưng lãi suất cao sẽ là gánh nặng lên đà tăng trưởng GDP của Indonesia và Philippines. Hai lý do chính khiến đồng tiền của Việt Nam ổn định hơn so với hầu hết các đồng tiền của các thị trường mới nổi trong năm nay là:
  • Các yếu tố cơ bản kinh tế vĩ mô của Việt Nam, bao gồm thặng dư tài khoản vãng lai (C/A) liên tục trong sáu năm qua đạt trung bình 4% GDP (chúng tôi dự báo thặng dư C/A của Việt Nam vượt qua mức 4%/GDP trong năm 2018).
  • Các chính sách thận trọng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nhằm ổn định tỷ giá USD-VND.
Xa hơn nữa, năm 2018 là một năm rất khó khăn đối với các ngân hàng trung ương của các thị trường mới nổi, điển hình là những căng thẳng hiện tại giữa Chính phủ và Ngân hàng trung ương của Ấn Độ. Với tất cả điều này, chúng tôi cho rằng áp lực mất giá của Đồng Việt nam đang gia tăng, và thị trường hiện vẫn đang khá chủ quan về khả năng mất giá lớn của đồng tiền Việt Nam (khoảng trên 5%) vào năm 2019. Chúng tôi kỳ vọng tỷ giá USD-VND sẽ mất giá 2-3% trong cả hai năm 2018 và 2019, dự báo này tương đồng với các dự báo chung trên thị trường, và cũng ít nhiều tương đồng với mức chênh lệch lạm phát kỳ vọng giữa Mỹ và Việt Nam, nhưng chúng tôi vẫn tin rằng những nhà đầu tư tham gia thị trường đang đánh giá thấp khả năng của sự suy yếu lớn hơn nhiều so với dự báo của tỷ giá USD-VND trong năm tới. MỨC ĐỘ TỰ DO HẠN CHẾ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC Việt Nam đang đi theo chiến lược quản lý tỷ giá tương tự như là công cụ Trung Quốc dùng để thu hút dòng vốn FDI cực lớn vào đầu những năm 2000. Nói ngắn gọn là Trung Quốc đã dành một lượng lớn nguồn lực quốc gia để bảo vệ giá trị của đồng Nhân dân tệ sau hậu quả cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, khi đồng tiền của Thái Lan/Indonesia/Philippines lao dốc. Chính phủ Trung Quốc cố gắng duy trì giá trị tiền tệ của nước họ để trấn an các nhà đầu tư nước ngoài rằng họ sẵn sàng làm bất cứ điều gì để giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư đột nhiên mất một nửa tài sản vào Trung Quốc vì khấu hao ngoại hối tiền tệ. (precipitous FX depreciation.) Trong việc theo đuổi chiến lược tương tự, Việt Nam có hai lựa chọn để hỗ trợ VND: 1) tăng lãi suất, hoặc 2) sử dụng dự trữ ngoại hối để mua VND trên thị trường ngoại hối liên ngân hàng. Chính phủ dường như ưu tiên lựa chọn thứ hai, bằng chứng là phát biểu của Thủ tướng Chính phủ vào cuối tháng trước rằng không muốn lãi suất liên ngân hàng tăng cao hơn mức hiện tại (đây là lần đầu tiên Thủ tướng Chính phủ phát biểu trước công chúng về lãi suất liên ngân hàng). Về dự trữ ngoại hối của Việt Nam, năm ngoái Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) đã tận dụng sự suy yếu của đồng đô la Mỹ, cũng như dòng vốn khổng lồ đổ vào thị trường Việt Nam từ việc thoái vốn cổ phần tư nhân/doanh nghiệp nhà nước, để tăng dự trữ ngoại hối của Việt Nam từ khoảng 37 tỷ USD vào cuối năm 2016, lên mức đỉnh điểm khoảng 64 tỷ USD tính đến cuối tháng 6 năm 20181. Tuy nhiên, bắt đầu từ tháng 7 năm nay, NHNN sau đó đã bán khoảng 6 tỷ USD dự trữ ngoại hối (và mua VND) để hỗ trợ giá trị của đồng tiền Việt Nam khi đối mặt với các sự kiện như việc đồng USD tăng, Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ (FED) tăng lãi suất, chiến tranh thương mại, và việc thiếu hụt USD bên ngoài nước Mỹ. Con số 6 tỷ USD này tương đương với số lượng dự trữ ngoại hối mà NHNN đã bán vào năm 2015 để ngăn chặn sự mất giá của tỷ giá USD-VND khi tiền Trung Quốc bất ngờ giảm giá. Mặc cho mức dự trữ ngoại hối của Việt Nam giảm rõ rệt trong vài tháng qua (dự trữ ngoại hối giảm khoảng 1,8 tỷ USD trong tháng 10), vẫn chưa có nhiều thông tin về chủ đề này trên các phương tiện báo chí truyền thông trong nước, mặc dù mức độ dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện nay đã trở lại dưới mức yêu cầu dự trữ tối thiểu được khuyến nghị phổ biến trước nay cho nền kinh tế tương ứng giá trị nhập khẩu của ba tháng. Dự trữ của NHNN giảm, cùng với việc chính phủ chưa sẵn sàng cho việc giảm lại mức tăng trưởng kinh tế bằng cách tăng lãi suất 2 đã làm giảm các mức độ tự do của ngân hàng trung ương trong mục tiêu giữ vững giá trị của đồng nội tệ – vì vậy đã làm cho khuynh hướng mất giá của đồng Việt Nam càng thêm rõ rệt hơn so với dự báo giả sử đồng USD lại tiếp tục tăng giá (sau khi đồng USD đã tăng 9% chỉ số DYX kể từ tháng 2), hoặc nếu đồng tiền của Trung Quốc chịu sự mất giá liên tục nếu/chỉ khi tỷ giá USD-CNY phá vỡ mức ‘7’ được theo dõi. NHỮNG ÁP LỰC MẤT GIÁ ĐANG TĂNG DẦN Áp lực mất giá lên VND đang tăng dần vì mức lãi suất thực ở Việt Nam hiện đang rất thấp, và vì khoản mục Lỗi & Sai Sót trong tài khoản Cán cân thanh toán của Việt Nam đã tăng từ 3 tỷ USD năm 2015 lên 14 tỷ USD năm 2017 – và có khả năng đạt 15 tỷ USD trong năm nay. Mục “Lỗi & Sai Sót” trong tài khoản Cán cân thanh toán về cơ bản là khoản tiền đang chảy ra nước ngoài, “nằm ngoài kiểm soát”, hoặc đang được chuyển đổi thành USD/vàng ở thị trường không chính thống – nhưng vẫn được giữ trong Việt Nam. Sự gia tăng trong “Lỗi & Sai Sót” trong tài khoản Cán cân thanh toán của Việt Nam cho thấy tiền đang chảy ra khỏi đất nước và/hoặc các khoản tiết kiệm trong nước đang được chuyển đổi từ VND sang USD do sự giảm lòng tin của người dân đối với VND, làm tăng rủi ro mất giá cho VND. Mức lãi suất thực của Việt Nam thấp cũng làm tăng nguy cơ mất giá lớn trong giá trị đồng tiền của Việt Nam bởi việc giảm động lực nắm giữ nội tệ. Lãi suất liên ngân hàng ngắn hạn vẫn chỉ ở mức khoảng 1% theo thực tế (tức là đã trừ ra lạm phát), mặc dù lãi suất liên ngân hàng tháng trước đã tăng 200 điểm cơ bản, và lãi suất trái phiếu Chính phủ Việt Nam (Vietnam Government Bond) 10 năm thấp hơn đáng kể so với lãi suất trái phiếu chính phủ ở Indonesia/Philippines, cả hai đều khoảng 8% so với mức khoảng 5% của Việt Nam – trong khi Indonesia thậm chí còn có xếp hạng tín dụng đầu tư so với mức xếp hạng BB của Việt Nam! CÁC VIỄN CẢNH MẤT GIÁ Nếu NHNN tiếp tục cạn kiệt dự trữ ngoại hối mà không tăng lãi suất, việc này có thể duy trì giá trị tiền tệ của quốc gia trong thời gian này, nhưng hầu hết các nhà phân tích tin rằng nếu mức dự trữ ngoại hối của NHNN giảm từ mức hiện tại, bằng 2.9 tháng của giá trị xuất khẩu, xuống mức dưới 2.5 tháng, sau đó NHNN sẽ buộc phải hạn chế các khoản mua bằng VND, điều này sẽ càng gây mất niềm tin vào đồng tiền của Việt Nam. Hơn nữa, trong khi Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và các ngân hàng khác khuyến nghị các nước nắm giữ dự trữ ngoại hối tương đương với giá trị nhập khẩu của ít nhất ba tháng, IMF cũng có mức tham chiếu về yêu cầu dự trữ ngoại hối được đề xuất khác phức tạp hơn, và Việt Nam cũng chỉ đạt 80% so với mức tham chiếu tại thời điểm mà dự trữ ngoại hối của NHNN đạt đỉnh điểm vào đầu năm nay. Thay vì dự trữ cạn kiệt, Ngân hàng Trung Ương có thể tăng lãi suất VND lên 200 điểm cơ bản, từ đó nâng lãi suất thực ngắn hạn của Việt Nam lên mức thực tế hơn khoảng 3%, nhưng trong trường hợp đó, tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể sẽ chậm lại từ 7% xuống 5%. Sự sụt giảm kết quả trong tăng trưởng GDP của đất nước sẽ được chấp nhận đối với hầu hết các nhà đầu tư FDI nước ngoài vì các nhà đầu tư này thường đổ tiền vào Việt Nam để tận dụng mức lương nhân công thấp cho việc sản xuất hàng xuất khẩu; sự suy giảm trong tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cũng sẽ làm chậm tốc độ tăng trưởng tiền lương nhân công hiện tại ~ 7% của Việt Nam, điều này cũng sẽ mang lại lợi ích cho các nhà đầu tư nước ngoài xây dựng các nhà máy mới ở Việt Nam. Điều đó nói rằng, trong khi việc tăng lãi suất để bảo vệ đồng tiền của Việt Nam sẽ làm chậm nền kinh tế trong nước để mang lại lợi ích cho các nhà đầu tư nước ngoài, nhiều nhà hoạch định chính sách có lẽ sẽ thấy điều này không thể chấp nhận được, mặc dù chiến lược này cuối cùng sẽ mang lại lợi ích cho Việt Nam trong dài hạn. Chúng Ta Có Còn Thời Gian Để Phản Ứng Cho Đợt Mất Giá Của VND Sắp Tới? Do tính chất không bền vững/không khả thi của hai phương án trên, rất có thể chính phủ sẽ chọn không phản ứng với đồng USD tăng, và đơn giản ngừng chi tiêu nguồn dự trữ để hỗ trợ VND và đồng thời từ chối tăng lãi suất. Trong trường hợp đó, VND có thể giảm mạnh, như được nêu trong bảng phân tích các viễn cảnh dưới đây, mặc dù nhiều khả năng sự sụt giảm này sắp xảy ra bởi vì các nhà hoạch định chính sách sẽ không muốn chịu mức giảm giá mạnh của VND trong giai đoạn sắp kết thúc năm, vì cần phải xét tới các mục tiêu thi đua và chủ trương đã đề ra cho năm nay của họ. Kết luận ở trên là VN Đồng có thể được thiết lập cho một sự giảm giá đáng kể sau giai đoạn năm mới. Áp lực mất giá lên VND là một phần do mức lãi suất thực trong nước liên tục ở mức thấp trong những năm gần đây – không giống như giai đoạn 2010, khi siêu lạm phát thúc đẩy việc thoái vốn khỏi thị trường Việt Nam, dẫn đến lần lượt giảm giá 25% lên đồng Việt Nam qua giai đoạn 2009-2011. Trong lịch sử, các thị trường mới nổi cần tỷ lệ lãi suất thực ít nhất 3-4% để thu hút vốn đầu tư – mặc dù ngưỡng đó đã bị hạ đáng kể bởi việc Nới Lỏng Định Lượng quá mức (QE) bởi các Ngân hàng trung ương sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.PHỤ LỤC: TẠI SAO LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM QUÁ THẤP Mức lãi suất thực, ngắn hạn thấp một cách bất hợp lý của Việt Nam dao động từ khoảng 2% đến 1% trong vài năm qua, cơ bản là do nguồn vốn nước ngoài dồi dào chảy vào nước được thúc đẩy bởi các yếu tố khác nữa, ngoài yếu tố lợi nhuận trực tiếp mang về từ các khoản đầu tư họ đưa vào Việt Nam. Ví dụ, Nhật Bản đã cạn kiệt nguồn công nhân nhà máy tại nước họ, vì vậy các công ty Nhật Bản cần thiết lập các nhà máy ở Đông Nam Á (nghĩa là người Nhật không quá lo ngại nếu lợi nhuận đầu tư thực sự của Việt Nam thấp vì họ có mục tiêu khác với kiếm lợi nhuận từ thị trường nội địa). Thặng Dư Vốn Nước Ngoài Làm Giảm Lãi Suất Thặng dư dòng vốn nước ngoài cuối cùng cũng chảy vào phần còn lại của nền kinh tế, từ đó làm giảm lãi suất VND cho tất cả những bên tham gia vào nền kinh tế. Một số nhà kinh tế học gọi hiệu ứng lan tỏa từ một lĩnh vực của một nền kinh tế tác động đến phần còn lại của nền kinh tế trong nước là “Căn Bệnh Hà Lan” (phát hiện trữ lượng khí đốt tự nhiên trong thập niên 1960 đã khiến đồng tiền của Hà Lan tăng vọt trong thập niên 1970, đã giết chết ngành công nghiệp sản xuất của nước họ). Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan đều phải đối mặt với tình trạng tương tự của dòng vốn nước ngoài dư thừa này đã làm giảm lãi suất trong nước. Trong trường hợp của Thái Lan, hiệu ứng này đã vô cùng hữu ích để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nội địa, bởi lãi suất trái phiếu của Thái Lan đã xuống dưới 4% trong thập kỷ qua. Tuy nhiên, tỷ lệ dòng vốn FDI/GDP của Thái Lan trung bình chỉ đạt ~2% trong 5 năm qua, so với tỷ lệ 8% của Việt Nam, do đó tác động méo mó của dòng vốn dư thừa lên lãi suất của Thái Lan không lớn như của Trung Quốc và Việt Nam. Ngân hàng trung ương của Trung Quốc đã giảm thiểu một số tác động của thặng dư dòng vốn nước ngoài bằng cách liên tục tăng Tỷ Lệ Dự Trữ Bắt Buộc (RRR) của các ngân hàng trong nước, khi dự trữ ngoại hối của quốc gia tăng lên, được minh họa trong biểu đồ dưới đây. Lưu ý rằng khi ngân hàng trung ương của Trung Quốc/Việt Nam mua dự trữ ngoại hối thì thường trả cho các khoản này bằng việc in đồng Nhân dân tệ/VN Đồng mới, làm tăng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, nhưng tăng RRR của các ngân hàng buộc ngân hàng phải giữ thêm Nhân dân tệ/ VN Đồng, và làm giảm thanh khoản trong hệ thống ngân hàng. Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) có thể bù đắp một số thanh khoản thặng dư của đất nước bằng cách tăng RRR của các ngân hàng thương mại địa phương (Việt Nam đã không làm theo điểm này), nhưng việc tăng RRR của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã không rút đủ thanh khoản từ hệ thống để tăng lãi suất của Trung Quốc lên đến mức tự do và hợp lý cho mức cân bằng của thị trường. Kết quả là, hệ thống tài chính phi ngân hàng, mà về cơ bản mang về lãi suất của thị trường tự do, bây giờ đã trở nên lớn như chính hệ thống ngân hàng thương mại của đất nước này. Trong trường hợp của Việt Nam, thặng dư thanh khoản gián tiếp tạo ra bởi thặng dư dòng vốn nước ngoài đã giúp tăng khoảng 50% giá cổ phiếu năm ngoái, dẫn đến việc giảm lợi nhuận trái phiếu Chính phủ 10 năm xuống còn 4% vào đầu Tháng 3/2018 và dẫn đến lãi suất liên ngân hàng còn lại dưới 2% gần như liên tục trong 6 tháng đầu năm 2018. Hơn nữa, việc bán 6 tỷ USD dự trữ ngoại hối kể từ khi kết thúc 6 tháng đầu năm 2018 của NHNN đã đủ làm cạn kiệt thanh khoản của hệ thống ngân hàng, và điều này dẫn đến lãi suất liên ngân hàng bất ngờ vượt quá 5%.
  1. NHNN không tiết lộ rõ ràng số lượng dự trữ ngoại hối mà họ có, do đó, các ước tính này được gộp lại với nhau, dựa trên các cuộc họp báo của NHNN cùng với dữ liệu từ IMF và các tổ chức khác.
  2. Ngân hàng trung ương của Việt Nam chưa hoàn toàn độc lập với chính phủ.
Thông Báo Miễn Trừ Trách Nhiệm © 2018 VinaCapital Group (VCG). All rights reserved. Những thông tin trong đây do Tập đoàn VinaCapital (VCG) soạn thảo và có thể được cập nhật, hoàn chỉnh, sửa đổi, điều chỉnh và xác nhận thêm mà không cần phải thông báo. Các thông tin trong tài liệu này không có bất kỳ hàm ý hay chỉ dẫn là đã được phê duyệt bởi bởi cơ quan có thẩm quyền. Thông tin không cấu thành hoặc hình thành nên một phần của bất kỳ chào bán nào hoặc gạ gẫm mua hoặc đăng ký mua bất kỳ cổ phiếu nào cũng như không tạo thành cơ sở hoặc liên quan đến hoặc hành động như là sự thuyết phục tham gia vào bất kỳ hợp đồng hoặc cam kết dưới bất kỳ hình thức nào. Đối với những thông tin dự báo dựa trên việc ước lượng hoặc ý kiến của VCG tại thời điểm thông tin được đưa ra, VCG sẽ không có nghĩa vụ xác nhận hoặc cập nhật những thông tin trong tương lai nếu sự ước lượng hoặc ý kiến về tình huống hoặc quản lý thay đổi. Không có bất kỳ sự cam đoan, cam kết, bảo đảm hoặc chắc chắn nào dù là rõ ràng hay ngụ ý được đưa ra bởi hoặc thay mặt VCG hoặc các giám đốc, nhân viên, đối tác, người lao động, đại lý hoặc bên tư vấn hoặc bất kỳ người nào khác về sự chính xác hoặc hoàn chỉnh của những thông tin và ý kiến nêu ra tại đây và những người nói trên cũng sẽ không có bất kỳ trách nhiệm hoặc nghĩa vụ nào đối với những thông tin hoặc ý kiến này hoặc đối với bất kỳ lỗi, thiếu sót, tuyên bố sai, bất cẩn hoặc vấn đề nào khác đối với bất kỳ thông tin liên lạc nào bằng văn bản hoặc bằng cách khác. Những thông tin này không được sao chép, chuyển giao lại cho bất kỳ người nào hoặc phát hành toàn bộ hoặc một phần vì bất kỳ mục đích gì. Thông qua việc chấp nhận văn bản này, Nhà đầu tư đồng ý bị ràng buộc bởi những hạn chế nêu trên. Không có trang nào hoặc bản sao nào được thực hiện hoặc chuyển đi hoặc giao trong phạm vi bất kỳ quyền tài phán nào nơi mà việc chuyển giao những tài liệu đó bị cấm theo luật chứng khoán hiện đang áp dụng. Việc không tuân thủ những hạn chế này có thể dẫn đến việc vi phạm luật chứng khoán quốc gia.
By |2018-11-30T04:39:37+00:00November 30th, 2018|Kiến thức|0 Comments

Leave A Comment